Sự ngạo mạn nguy hiểm của Trung Quốc trên Biển Đông
ThomN dịch
02:45 SA @ Thứ Hai - 02 Tháng Sáu, 2014

(VINPA) - Hành vi đối đầu hiện tại của Trung Quốc đối với các quốc gia láng giềng ở Biển Đông là hung hăng, kiêu ngạo và có mùi vị của tư tưởng đại Hán, vị chủng. Chẳng những không biểu hiện niềm tự tôn dân tộc, mà nó còn làm xấu đi tinh thần ái quốc. Những người Hồng Kông yêu nước nên nhận thức rõ bản chất của nó: một mưu đồ nguy hiểm.

Bắc Kinh không chỉ bành chướng đến Việt Nam và Philippines, họ còn thành công trong việc biến Indonesia từ vị trí điều phối viên giữa Trung Quốc và các quốc gia ở Biển Đông trở thành đối thủ. Trong những tháng gần đây, Indonesia đã hai lần cáo buộc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền trái phép một phần quần đảo Natuna của họ. Quá nhiều cho một “sự trỗi dậy hòa bình’’ khi Trung Quốc chọc tức hàng xóm với dân số hơn 400 triệu người mà họ cho là yếu ớt.

Tuyên bố chủ quyền lãnh hải của Trung Quốc được bao bọc trong cái gọi là đường chín đoạn kéo dài hơn 1.000 hải lý từ bờ biển Quảng Đông và Hải Nam đến gần đảo Borneo thuộc chủ quyền của Malaysia, Indonesia và Brunei. Đường chín đoạn này cũng bao gồm hầu như tất cả vùng biển giữa Việt Nam và Philippines. Tuyên bố này bao trùm hơn 90% lãnh hải của Biển Đông mặc dù Trung Quốc và cả Đài Loan chỉ sở hữu khoảng 20% đường bờ biển.

Những tuyên bố này đã phớt lờ sự hiện hữu của các dân tộc cùng lịch sử hàng hải và giao thương trong suốt 2.000 năm qua, trước khi Trung Quốc biết đến vùng biển phía Nam và xa hơn nữa.

Người Indonesia đã đến Châu Phi và chiếm thuộc địa Madagascar hơn 500 năm trước Trịnh Hòa (nhà hàng hải và thám hiểm người Trung Quốc). Đổi lại, các dân tộc Đông Nam Á hấp thụ nhiều tinh hoa từ Ấn Độ và thế giới Hồi giáo hơn từ Trung Quốc.

Việc Trung Quốc dịch chuyển một giàn khoan vào vùng biển phía Đông thuộc Đà Nẵng chỉ với lý do yếu ớt. Trung Quốc lấy cớ quần đảo Hoàng Sa mà họ hiện đang chiếm đóng, gần với vị trí giàn khoan hơn so với Việt Nam. Tuy nhiên, cả hai nước vẫn đang tranh chấp quần đảo này sau khi Trung Quốc vô cớ xâm chiếm Hoàng Sa vào năm 1974.

Nhưng Trung Quốc chưa bao giờ định cư ở đây, họ dùng lý lẽ yếu ớt để hưởng trọn vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam. Lịch sử cũng đã khẳng định vùng bờ biển này là trái tim của Vương quốc Chăm, nơi mà trong 1.000 năm giữ vị trí dẫn đầu trong thương mại khu vực.

Sự thỏa hiệp giữa Trung Quốc và Việt Nam chắc chắn có thể có được. Malaysia và Thái Lan đã từng tranh chấp một khu vực khí đốt trên Vịnh Thái Lan. Các quốc gia khác trong khu vực – Indonesia, Singapore, Malaysia – đã đặt vấn đề chủ quyền biển đảo ra Tòa án Công lý Quốc tế và chấp nhận kết quả phán xét. Nhưng Trung Quốc vẫn không muốn thỏa hiệp hay đưa ra trọng tài. Trong khi đó, việc hợp tác cùng phát triển là bất khả thi bởi Trung Quốc tiên quyết ra điều kiện các nước phải chấp nhận chủ quyền của họ.

Trong trường hợp bãi cạn ngoài khơi Philippines, tuyên bố của Trung Quốc dựa trên sự pha trộn lịch sử mà họ sáng tạo ra và thực tế rằng, họ đã đệ đơn tuyên bố chủ quyền trước, một lý lẽ nghèo nàn khi họ không có sự hiện diện liên tục ở đó và khi Philippines đã được thừa hưởng chủ quyền từ hiệp ước giữa hai cường quốc thực dân phương Tây. Những bãi cạn này và các thực thể khác mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền rõ ràng nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines và trong vùng biển đi lại lâu đời nay của người dân quốc gia này. Đó là điều không có gì chối cãi được.

Bãi cạn Scarborough nằm khoảng 200km cách Luzon và cách Trung Quốc 650km. Tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc trên Bãi Trăng Khuyết (Half Moon Shoal) thậm chí còn vô lý hơn nữa. Đây là rạn san hô nơi Philippines bắt giữ ngư dân Trung Quốc bị cáo buộc đánh bắt loài rùa biển quý hiếm. Các cuộc biểu tình tự phát đã nổ ra tại Bắc Kinh. Rạn san hô này nằm 110km cách đảo Palawan, gần 1.500km cách Trung Quốc.

Những tuyên bố vô lý này thực tế đã được truy ngược về thời kỳ Quốc dân Đảng vốn không còn tồn tại. Cũng không thể coi việc chính phủ các nước trước đây thỉnh thoảng cống nạp cho Bắc Kinh như cái cớ để xác lập chủ quyền của Trung Quốc bởi đối với những quốc gia giao thương này, việc cống nạp là một dạng thuế để đổi lại việc giao dịch với Trung Quốc. Và nếu Trung Quốc có đôi khi sắm vai đế quốc trong vùng thì đó đúng ra là lý do để quan ngại, chứ không phải là cơ sở để cho rằng mình là chúa tể của vùng biển mà phần nhiều thuộc Mã Lai. Nếu không thì Thổ Nhĩ Kỳ có thể tuyên bố Ai Cập thuộc về họ và Nga có thể tuyên bố chủ quyền trên khắp vùng Trung Á.

Một Trung Quốc hồi sinh đang muốn phô trương sức mạnh và cho thấy ai là bá chủ trong vùng giống như những gì họ đã từng làm với Việt Nam năm 1979 -và nhắc nhở Mỹ về những điểm yếu của mình. Nhưng một yếu tố nữa là sự miễn cưỡng phải đối xử bình đẳng với các láng giếng ngoại Hán, những dân tộc với lịch sử và nền văn hóa riêng, trừ Việt Nam, chưa từng chịu ảnh hưởng lớn của Trung Quốc.

Trung Quốc có lịch sử dài, tự coi mình ưu việt hơn, đặc biệt đối với những dân tộc xung quanh. Niềm tin vào thuyết ưu sinh và sự cần thiết phải bảo vệ và phát huy đặc tính gene của người Hán cực kỳ mạnh trong thời kỳ Cộng hòa và lặp lại trong quan điểm và chính sách xã hội của Lý Quang Diệu ở Singapore. Niềm tin này từ lâu đã bị loại bỏ ở phương Tây và bị lên án dưới thời Mao Trạch Đông. Nhưng nay nó đang trỗi dậy ở Trung Quốc đại lục, nơi mà một số học giả khó có thể chấp nhận rằng con người hiện đại khởi nguồn từ châu Phi và như vậy Trung Quốc không phải là thủy tổ duy nhất của nhân loại.

Nguồn: